Tìm Kiếm

Đang tải...

Thứ Hai, ngày 21 tháng 4 năm 2014

Tôi đã thấy Chúa

Lời Chúa: Ga 20, 11-18
Khi ấy, bà Maria Mácđala đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giêsu, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân. Thiên thần hỏi bà: “Này bà, sao bà khóc?” Bà thưa: “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu!” Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giêsu. Đức Giêsu nói với bà: “Này bà, sao bà khóc? Bà tìm ai?” Bà Maria tưởng là người làm vườn, liền nói: “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về.” Đức Giêsu gọi bà: “Maria!” Bà quay lại và nói bằng tiếng Hípri: “Rápbuni!” (nghĩa là “Lạy Thầy”). Đức Giêsu bảo: “Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: “Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em.”. Bà Maria Mácđala đi báo cho các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa”, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà.
Suy nim:
Maria Mácđala là con người yêu mến.
Theo Tin Mừng Gioan, bà đã theo Thầy Giêsu đến tận Đồi Sọ,
đã đứng gần thập giá và chứng kiến cái chết của Thầy (Ga 19, 25).
Hầu chắc bà đã tham dự cuộc mai táng Thầy và biết vị trí của ngôi mộ.
Hơn nữa, bà là nguời ra mộ sớm nhất vào ngày thứ nhất trong tuần.
Rồi bà chạy về báo tin cho các môn đệ về chuyện xác Thầy không còn đó (20, 1-2).
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy bà lại có mặt ở ngoài mộ lần nữa (c. 11).
Ngôi mộ như có sức giữ chân bà.
Chỉ tình yêu mới giải thích được điều đó.
Maria là con người tìm kiếm.
Đấng phục sinh hỏi bà: “Bà tìm ai?” (c. 15).
Bà chỉ có một mối quan tâm duy nhất, đó là tìm lại được xác Chúa của bà.
Bà đã nói với Phêrô: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ,
và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu” (20, 2).
Bà đã nói với vị thiên thần ngồi trong mộ điệp khúc tương tự:
“Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu” (c. 13).
Khi gặp Thầy Giêsu, bà tưởng là người làm vườn, nên cũng nói:
“Nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết
ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về (c. 15).
Đối với Maria, mất xác Thầy là mất chính Thầy,
nên bà cứ bị ám ảnh bởi chuyện người ta để Người ở đâu.
Maria là con người đau khổ.
Bà đã khóc nhiều từ khi xác Thầy không còn đó.
Cả thiên thần và Đức Giêsu đều hỏi bà cùng một câu hỏi: “Tại sao bà khóc?”
Ai sẽ là người lau khô nước mắt của bà Maria Macđala?
Ai sẽ là người giúp bà tìm thấy điều bà tìm kiếm?
Đức Giêsu phục sinh đến gặp bà dưới dạng một người làm vườn.
Thậm chí bà nghi ngờ ông này có dính dáng đến chuyện mất xác Thầy.
“Maria”: Đức Giêsu gọi tên bà với một cung giọng quen thuộc.
Bây giờ bà mới nhận ra Thầy và reo lên: “Rabbouni!”
Có những lời của Đức Giêsu được thực hiện.
“Ai tìm thì sẽ thấy”, “Ai khóc lóc sẽ được vui cười”.
Maria đi tìm xác Thầy, nhưng bà đã gặp được một điều quý hơn nhiều,
đó là chính Thầy đang sống.
Maria đã khóc lóc, nhưng niềm vui bà gặp được lớn hơn nhiều.
Chẳng có giọt nước mắt nào là vô ích trước mặt Thiên Chúa.
Hãy nếm niềm vui bất ngờ của Maria.
Bà được Chúa sai đến với các môn đệ, cũng là anh em của Ngài.
Bà gói ghém kinh nghiệm bà mới trải qua trong một câu đơn giản:
“Tôi đã thấy Chúa!” và Chúa đã nói với tôi (c. 18).
Chúng ta không thể nào làm chứng cho Chúa Giêsu nếu không có kinh nghiệm này.
Thấy Chúa và nghe được Chúa nói: đó là ước mơ của chúng ta trong cầu nguyện.
Nhưng đừng quên Maria đã yêu cách nồng nhiệt và can đảm
và đã đau khổ tìm kiếm Thầy Giêsu.
Cầu nguyn:

Lạy Chúa Giêsu phục sinh
xin ban cho con sự sống của Chúa,
sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi.

Xin ban cho con bình an của Chúa,
bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời.

Xin ban cho con niềm vui của Chúa,
niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn.

Xin ban cho con hy vọng của Chúa,
hy vọng làm con lại hăng hái lên đường.

Xin ban cho con Thánh Thần của Chúa,
Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Thứ Hai, ngày 24 tháng 3 năm 2014

Bế mạc tuần tập huấn giáo lý tại giáo hạt Bột Đà


Bế mạc tuần tập huấn giáo lý tại giáo hạt Bột Đà
Sáng thứ Bảy, ngày 22.03.2014, tại nhà thờ giáo xứ Bột Đà đã diễn ra chương trình tổng kết, thánh lễ và nghi thức bế giảng tuần tập huấn Giáo lý viên của giáo hạt Bột Đà.
Đợt tập huấn này được khai mạc vào ngày thứ hai 17.03.2014 và được kéo dài suốt một tuần. Trong thời gian này, gần 180 thầy cô giáo lý viên của giáo hạt đã được ban giảng huấn cung cấp nhiều kiến thức giáo lý, nhiều kỹ năng truyền thụ cũng như nghiệp vụ sư phạm.

Trước buổi lễ tổng kết, các thầy cô đã có một giờ để trao đổi, chia sẻ, góp ý về tuần huấn luyện. Hầu hết các thầy cô đều hài lòng về kết quả của đợt tập huấn này. Nhiều thầy cô cũng rất thích thú với cách truyền thụ, cũng như các phương pháp của quý thầy, quý xơ trong ban giảng huấn địa phận đưa ra giảng dạy. Các thầy cô cũng đóng góp nhiều ý kiến chân thành về chương trình huấn luyện của ban giảng huấn giáo phận.

Trước khi bắt đầu thánh lễ, đã diễn ra chương trình tổng kết khóa huấn luyện. Ông Giuse Phùng Trọng Sáng trưởng ban giáo lý hạt Bột Đà đại diện các thầy cô Giáo lý viên gửi lời cám ơn đến quý Ban giảng huấn, cha quản hạt, cha đặc trách giáo lý, Hội đồng mục vụ, cộng đoàn giáo xứ Bột Đà và các thầy cộng đoàn Antôn đã nhiệt tình, lo lắng tạo mọi điều kiện giúp đỡ cho đợt tập huấn thành công tốt đẹp.

Thay mặt cho ban thi đua, thầy Phêrô Nguyễn Văn Tiến công bố kết quả thi đua của đợt tập huấn lần này:
Xếp thứ nhất: giáo xứ Yên Lĩnh và giáo xứ Trung Hòa
Xếp thứ hai: giáo xứ Bột Đà, giáo xứ Đồng Lam và giáo xứ Sơn La
Xếp thứ ba: giáo xứ Lãng Điền và giáo xứ Quan Lãng.

 
Thánh lễ bế mạc diễn ra lúc 10 giờ sáng. Chủ tế trong thánh lễ là cha quản hạt An tôn Hoàng Đức Luyến, cha đặc trách giáo lý F.x Nguyễn Văn Lượng, cha quản xứ Quan Lãng Giuse Ngô Văn Hậu, cha J.B Nguyễn Đình Lưu, quản xứ Trung Hòa và cha Antôn Lê Xuân Trường quản xứ Yên Lĩnh. Cùng các thầy cô giáo lý viên tham dự khóa huấn luyện.

Trong phần chia sẻ, cha Giuse Ngô Văn Hậu thay mặt cho quý cha, quý phụ huynh, và các em học sinh cám ơn quý thầy cô giáo lý viên đã quảng đại hy sinh thời gian cũng như nhiều công việc của gia đình về đây tham dự tuần tập huấn. Ngài cũng nêu bật lên vai trò và sứ vụ của người giáo lý viên trong công cuộc truyền giao đức tin cho thế hệ trẻ. Các thầy cô giáo lý viên chính là những cánh tay nối dài của cha xứ cũng như của Giáo Hội trong công việc truyền giáo, xây dựng và phát triển Giáo Hội. Các thầy cô đã được nhận nhưng không thì cũng phải trao ban nhưng không. Thầy cô giáo lý viên chính là những nhịp cầu để cho các em học sinh hiểu biết về Thiên Chúa và đưa các em đến với Chúa. Muốn làm được vậy, chính các thầy cô phải luôn biết sống những điều mình dạy. Chính điều này mới là lời giảng dạy có sức thuyết phục nhất.

Sau thánh lễ, nghi thức Sai đi diễn ra với những cử hành sống động, đầy ý nghĩa. Cha đặc trách giáo lý đã trao Kinh Thánh và nến sáng cho các thầy cô như là những hành trang thiết yếu trên hành trình sứ vụ mà các thầy cô được mời gọi dấn thân.

Tuần tập huấn kết thúc, với những niềm vui và những nỗi buồn đan xen, các thầy cô đã bùi ngùi chia tay nhau để trở về gia đình, quê hương và công việc mỗi người. Với những hành trang giáo lý đức tin và những cảm nghiệm sâu sắc về Thiên Chúa, các thầy cô giáo lý viên sẽ là những chuyên viên, những chứng nhân trực tiếp, những người loan báo Tin Mừng không thể thiếu; những người tiêu biểu cho sức mạnh cơ bản của các cộng đoàn tín hữu, những người can đảm hiến thân cho công cuộc giảng dạy giáo lý Tin Mừng cho mọi người, đặc biệt với giới trẻ của các giáo xứ.
























































 
Tác giả bài viết: Micae Ánh
nguồn: giaohatbotda.net

Thứ Tư, ngày 19 tháng 2 năm 2014

Video Phóng sự Đại hội Giới trẻ Giáo phận Vinh lần thứ nhất


Tham dự đại hội, không chỉ được vui cùng nhau, ăn uống cùng nhau, thao thức cùng nhau… mà các bạn trẻ còn được cùng tắm mát trong suối nguồn ân sủng tình yêu Chúa. Trong tình yêu vô tận ấy, mọi khoảng cách dường như được xóa nhòa, mọi ưu tư dường như tan biến… Những người trẻ đến từ khắp nơi trong Giáo phận Vinh rộng lớn, tưởng chừng xa lạ, bỗng trở nên thân quen, gần gũi… “Sợi chỉ vàng” Đức tin đã đan kết mọi người nên một! GPVO - Trong hai ngày 4 – 5.02.2014 (tức mồng 5 và 6 Tết Giáp Ngọ), tại Đền thánh Antôn – Trại Gáo, Đại hội Giới trẻ Giáo phận Vinh lần thứ nhất đã diễn ra thành công tốt đẹp. Theo thống kê, hơn 15 nghìn bạn trẻ đến từ các Giáo hạt thuộc Giáo phận Vinh đã quy tụ về đây tham dự đại hội. Đức Giám mục Giáo phận Vinh Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Đức Giám mục Phụ tá Phêrô Nguyễn Văn Viên, quý cha, quý tu sĩ nam nữ… đã cùng tham dự đại hội với các bạn trẻ.

Đại hội đã diễn ra trong niềm hân hoan gặp gỡ, với bầu khí rộn ràng, ấm áp trong những ngày xuân mới, với tình yêu thương gắn kết giữa những người trẻ Công giáo thuộc ba tỉnh Nghệ – Tĩnh – Bình.
Hy vọng rằng câu hỏi của người thanh niên giàu có “Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?” (Mc 10,17), cũng là câu chủ đề của đại hội, luôn vang vọng trong đời sống mỗi bạn trẻ hôm nay và ngày mai! 
Ban Truyền thông Giáo phận Vinh trân trọng gửi đến quý Đức cha, quý cha, quý tu sĩ nam nữ và các bạn trẻ Video Phóng sự Đại hội Giới trẻ Giáo phận Vinh lần thứ nhất. 

Ước mong phóng sự này sẽ là “món quà đầu xuân” đầy hân hoan mà những người thực hiện gửi đến cộng đoàn Dân Chúa giáo phận Vinh cùng mọi người.


Nguồn: Ban Truyền thông Giáo phận Vinh

Thứ Bảy, ngày 11 tháng 1 năm 2014

Ý nghĩa của biến cố Chúa chịu phép rửa


Có thể nói không sai rằng Giáo Hội mừng Lễ Chúa Hiển Linh kéo dài qua 3 Chúa Nhật. Hiển linh cho dân ngoại, mà các đạo sĩ là đại diện (Chúa Nhật lễ Ba Vua), hiển linh cho dân Do Thái qua biến cố Chúa chịu phép rửa tại sông Giođan (Chúa Nhật I TN), và Hiển Linh cho các môn đệ và gia quyến đôi tân hôn qua phép lạ hoá nước thành rượu tại tiệc cưới Cana (Chúa Nhật II TN C). Hôm nay, chúng ta cùng chiêm ngắm Chúa Giêsu hiển linh tại sông Giođan qua biến cố Gioan làm phép rửa. Vậy đâu là ý nghĩa của biến cố này?
- Trước hết, phép rửa tại sông Giođan là biến cố mà Chúa Giêsu muốn liên đới với dân

Dẫu là Con Thiên Chúa, là Đấng vượt trên mọi ước lệ và định chế của loài người, nhưng một khi đã chấp nhận làm người và chấp nhận trở thành công dân của một nước trần thế, Chúa Giêsu vẫn phải tuân thủ mọi luật lệ và truyền thống của đất nước ấy. Khi sinh ra được 8 ngày, Ngài đã được cắt bì và làm lễ đặt tên như bao trẻ trai Do Thái khác. Được cắt bì và đặt tên để chính thức trở thành công dân của đất nước Do Thái. 40 ngày tuổi, Ngài lại được tiến dâng cho Thiên Chúa, theo qui định dành cho các con trai đầu lòng. Được tiến dâng để được thuộc về dân thánh, dân riêng của Chúa. Dẫu rằng Chúa Giêsu là Con Một Thiên Chúa, tự bản chất Ngài đã thuộc về Thiên Chúa, nên không cần phải được tiến dâng cho Thiên Chúa nữa. Khi đã tròn 12 tuổi, hàng năm Chúa Giêsu phải hành hương lên Giêrusalem, trung tâm của đời sống tâm linh, như luật đã qui định cho tất cả các công dân đã trưởng thành. Khi trạc 30 tuổi, cùng với công dân khác, Chúa Giêsu cũng hoà vào dòng người để lãnh nhận phép rửa của Gioan hầu đón nhận hồng ân tha thứ của thời đại Đấng Cứu Thế. Kỳ thực, Chúa Giêsu không cần lãnh nhận phép rửa của Gioan chút nào, đơn giản vì Ngài là Đấng không vương vấn một tì vết nào của tội luỵ. Khi bước xuống sông Giođan để lãnh phép rửa của Gioan, trước hết Ngài muốn liên đới với dân và liên đới với cả tội lỗi của dân.

Nói cách khác, qua biến cố nhập thể, Đức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người đã thực hiện một bước thật dài, bước từ trời cao đến đất thấp, từ cõi vô hạn đến chốn hữu hạn. Và nay qua biến cố chịu Phép Rửa, Chúa Giêsu lại bước tiếp một bước quan trọng nữa, bước liên đới với con người tội lỗi, cũng là bước quyết định ra khỏi giai đoạn ẩn dật để đi vào giai đoạn công khai rao giảng Tin Mừng cứu độ. Đây là một khác biệt lớn so với việc dân chúng đến lãnh nhận phép rửa của Gioan.

- Thứ đến, phép rửa tại sông Giođan còn là biến cố đặc biệt để Chúa Giêsu xuất hiện công khai trước toàn thể dân chúng

Trước kia Chúa Giêsu chỉ xuất hiện một cách khiêm tốn, với một số ít người hiếm hoi, như với một số mục đồng trong đêm Giáng Sinh, với 3 nhà đạo sĩ từ phương đông xa xôi, và sau đó là với cụ già Simêon và bà Anna. Rồi năm lên 12 tuổi là với một số kinh sư luật sĩ tại Đền thờ Giêrusalem. Chấm hết. Hơn nữa, hẳn lúc đó Chúa Giêsu còn bé nên chẳng mấy ai để ý nhiều đến Ngài.

Lần này Chúa Giêsu công khai xuất hiện trước nhiều người trong một khung cảnh trọng đại, khung cảnh toàn dân đến lãnh nhận Phép rửa thống hối của Gioan. Ngài xuất hiện trong tư cách là một người đã trưởng thành và chín chắn thực sự, một người đã bước vào tuổi “tam thập như lập”. Chúa Giêsu xuất hiện như chàng rể mới bên cạnh phù rể là Gioan, và Gioan đã có dịp giới thiệu trực tiếp Chúa Giêsu cho các môn đồ của mình và cho toàn thể dân chúng. Gioan chỉ làm phép rửa bằng nước không thôi còn Chúa Giêsu sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần và lửa. Gioan đã long trọng giới thiệu như thế về Chúa Giêsu cho toàn dân. Đây là cơ hội để Gioan thể hiện vai trò MC của mình cho Chúa Giêsu.

- Sau nữa, phép rửa tại sông Giođan là biến cố quan trọng, qua đó Chúa Cha xác nhận tư cách Con Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô.

Chúa Cha xác nhận tư cách Con Thiên Chúa của Đức Giêsu qua các hiện tượng thần linh kèm theo, như: trời mở ra, Thánh Thần ngự xuống trên Chúa Giêsu dưới hình chim câu, và tiếng Chúa Cha từ trời phán.

Nếu Chúa Giêsu chỉ xuất hiện công khai trước mặt dân chúng mà không có các hiện tượng nào khác thường thì dân chúng cũng chỉ biết đến Chúa Giêsu như một thanh niên con bác thợ mộc miền Galilê quê mùa không hơn không kém, và rồi chẳng mấy chốc người ta sẽ lãng quên Ngài. Ở đây chúng ta thấy những sự lạ cả thể xác nhận Chúa Giêsu không phải là một con người tầm thường, hay khá hơn là một ngôn sứ như bao ngôn sứ khác, mà Chúa Giêsu phải là một người có nguồn gốc huyền siêu nào đó. Sứ mạng của Ngài là sứ mạng thần linh, sứ mạng đem ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại theo chương trình của Chúa Cha.

Căn tính của Ngài là con của trời cao, như tiếng vọng xuống từ trời: “Đây là con yêu dấu của Ta. Ta hài lòng về Người” (Mt 3,17). Chính Chúa Cha đã xác nhận Ngài là Con yêu dấu của Thiên Chúa. Một lời giới thiệu hùng hồn, trang trọng vọng vang từ trời xanh. Chắc chắn đây là lời giới thiệu có sức thuyết phục hơn bất cứ lời nào của con người, cho dẫu đó là lời của Gioan, vị Ngôn sứ lừng danh.

Sứ điệp của ngày lễ hôm nay mời gọi ta điều gì? Mời gọi chúng ta trước hết là nhìn nhận thân phận của chính mình để được Chúa liên đới và đồng hành. Thứ đến là tin nhận Đức Giêsu là Đấng xoá tội trần gian để được ban ơn tha thứ. Sau nữa là đón nhận Chúa Giêsu là Con Chí ái của Thiên Chúa để  được chia sẻ chức vị làm con của Thiên Chúa là Cha. Và sau cùng là chấp nhận dấn thân làm chứng cho Tin Mừng cứu độ của Chúa trong chính môi trường mà ta đang sống. Amen.


Lm. Giuse Nguyễn Thành Long

Thứ Năm, ngày 09 tháng 1 năm 2014

KHIÊM NHƯỜNG, LIÊN ĐỚI ĐỂ CỨU ĐỘ

(LỄ CHÚA GIÊ SU CHỊU PHÉP RỬA)
Từ lễ Giáng Sinh đến hôm nay, Giáo Hội không ngừng mời gọi con cái của mình chiêm ngắm và sống sứ điệp mầu nhiệm Giáng Sinh nơi Hài Nhi Giêsu. Các sứ điệp tuy nhiều, nhưng có lẽ điểm nhấn trọng yếu vẫn là sự khiêm nhường và tính liên đới của Ngôi Hai Thiên Chúa. 
Lời Chúa hôm nay, một lần nữa thánh Mátthêu làm toát lên sự khiêm nhường đó khi trình thuật sự kiện Đức Giêsu xin Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho mình.
   1.      Ý nghĩa của phép rửa nơi Gioan Tẩy Giả
Để chuẩn bị cho dân chúng đón nhận Đức Giêsu, Gioan đã kêu gọi mọi người ăn năn sám hối, từ bỏ con đường tội lỗi, canh tân đời sống để được ơn cứu độ. Đời sống của ông đã đi đôi với hành động của mình khi chọn lối sống đơn sơ, nghèo khó trong hoang địa: ông đã “Mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn” (Mt 3, 4), nhằm sống triệt để tinh thần khiêm nhường và trọn vẹn ý nghĩa của sự chay tịnh để chờ mong Đấng Cứu Thế đến cũng như chu toàn vai trò là người dọn đường cho Vị Thiên Sai. Đỉnh cao của sứ điệp mà Gioan mời gọi đó là đón nhận phép rửa sám hối và canh tân đời sống để được ơn tha thứ.
Khi nói đến phép rửa của Gioan, chúng ta cũng nên nhắc đến các nghi thức phép rửa của người đương thời với ông. Phép rửa thời bấy giờ gồm có phép rửa của những người tòng giáo, nhằm tẩy uế. Phép rửa của những người Étxem là một nghi thức hằng ngày, có tính cách giúp người ta sống trong sạch. Nhưng phép rửa của Gioan thì khác hẳn với các phép rửa trên. Phép rửa mà Gioan cử hành nói lên tinh thần sám hối để chuẩn bị cho phép rửa trong Thánh Thần và Lửa mà Đức Giêsu sẽ cử hành sau này. Tuy nhiên, phép rửa mà Gioan cử hành trên sông Giođan chỉ là một nghi thức tượng trưng. Phép rửa này chưa phải là một Bí tích và thực chất cũng chưa có khả năng tẩy xoá tội lỗi và cứu độ được con người, bởi chưng, chưa có năng lực ban ơn thánh hoá. Vì thế, phép rửa này có tính sám hối. Chính vì thế, thánh nhân mới quả quyết rằng: “Phần tôi, tôi đã rửa anh em trong nước, nhưng Người, Người sẽ rửa anh em trong Thánh Thần" (Mt 1,7).
Trong đoàn người lũ lượt đến với Gioan để xin lãnh nhận phép rửa do ông cử hành, Đức Giêsu cũng tháp nhập vào đoàn người đông đảo ấy để xin Gioan làm phép rửa cho mình. Khi thấy Đức Giêsu, ông đã tỏ vẻ ngỡ ngàng vì tại sao lại có thể xảy ra sự ngược đời như thế được? Một vị Thiên Chúa là Chúa Tể trời đất; Đấng là khởi đầu và kết thúc; Đấng xóa tội trần gian; Đấng trong sạch không tỳ tích; Đấng thánh thiện vẹn toàn; Đấng sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần và Lửa mà lại đến để xin mình lãnh nhận phép rửa tỏ lòng sám hối từ chính một người cũng cần được cứu độ? Có lẽ đây là một điều khó hiểu đối với Gioan: Chính tôi phải được Ngài rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi sao?” (Mt 3, 14) Nhưng khi nghe Đức Giêsu giải thích, ông đã hiểu được ý nghĩa sâu xa sứ mạng của Đấng Cứu Độ.
     2.      Đức Giêsu cứu độ nhân loại bằng con đường khiêm nhường và tinh thần liên đới
Thật vậy, Đức Giêsu đã đến trần gian để cứu chuộc con người. Ngài đã trở nên như không cho con người có tất cả. Ngài đã thực hiện thánh ý của Chúa Cha cách tuyệt đối. Tuy bản thân Ngài hoàn toàn vô tội, nhưng Ngài là Đấng gánh tội trần gian, nghĩa là Ngài chất đầy tội lỗi của nhân loại trên bản thân mình. Vì thế, trước mặt Thiên Chúa, với tư cách đại diện cho toàn nhân loại, Ngài phải tự liệt mình vào hàng tội nhân cần phải sám hối. Và Ngài sám hối thay cho toàn nhân loại, tương tự như Môsê (x. Xh 9,27; 32,31-32; Lv 8,14-15), Nêhêmi (x. Nkm 1,6-7), Ét-ra (x. Er 10,1.6) và Đanien (x. Đn 10,2) đã từng làm. Đức Giêsu đã lãnh nhận phép rửa sám hối và ghi nhận hành vi sám hối này để liên đới với hết mọi người Do thái thời bấy giờ, đồng thời chia sẻ phân phận khổ đau, nghèo đói và bệnh tật của con người. Ngài muốn trở nên người thầy, người anh, người bạn của tất cả chúng nhân, nhất là những người thấp cổ bé họng, những người cô thế, cô thân... Ngài muốn chung phần đau khổ với hết mọi cảnh đời, nhất là những kẻ tội lỗi, yếu đuối để nâng con người lên và giải thoát họ khỏi quyền lực của sự chết. Vì thế, Ngài đã “không lớn tiếng”, “không bẻ gẫy cây lau bị dập, không dập tắt tim đèn còn leo lét”. Ngài chính là “Người Tôi Tớ” mà tiên tri Isaia đã loan báo (x. Is 42, 1-4). Qua hành vi đó, Đức Giêsu muốn diễn tả một vị Thiên Chúa thật gần gũi với loài người, một vị Thiên Chúa nghe được, thấu được và cảm được được nỗi đau khổ, yếu đuối của loài người. Mặt khác, khi lãnh nhận phép rửa sám hối, Đức Giêsu muốn mặc khải và nhấn mạnh đến khía cạnh cứu độ chứ không phải khía cạnh thống trị bằng quyền bính như người Dothái mong chờ. Ngài đến để biến đổi nhân loại từ bên trong, bằng cách chia sẻ thân phận nghèo hèn và khốn khổ của họ, hơn là từ bên ngoài, bằng xét xử phán đoán. Bởi vậy, Ngài hoàn toàn từ chối kiểu thống lãnh bằng vũ lực và quyền bính, nhưng bằng con đường tình yêu và tự hủy (x. Mt 4, 1-11; 11,2-6; 16, 13-23).  Chính vì thế, khi Gioan tỏ vẻ từ chối vì thấy mình không xứng: "Chính tôi phải được Ngài rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi sao?", ngay lập tức, Đức Giêsu đã nói với ông: “Không sao, vì chúng ta cần chu toàn bổn phận như thế" (x. Mt 3, 14), cần phải hoàn thành sự công chính là trung thành với Thiên Chúa cách tuyệt đối. Thật thế, Đức Giêsu là Tôi Tớ Giavê, nên Ngài chẳng nề hà khi cùng chịu đau khổ vì tội của dân mình. Khi lãnh nhận phép rửa của Gioan, Ngài vừa trở nên chi thể, vừa trở nên thủ lĩnh của một nhân loại tội lỗi cần được thánh hóa và cứu chuộc. Thành ra, mặc dầu chẳng phạm tội, Chúa Giêsu cũng phải cúi xuống và dìm mình dưới dòng sông Giodan để chịu phép rửa thống hối chỉ vì muốn liên đới, gánh vác tội lỗi của con người và chia sẻ với họ niềm hy vọng (x. 2 Cr 5, 21; Dt 2, 14- 17). Khi khiêm tốn lãnh nhận phép rửa của Gioan, thì cũng là lúc Ngài chính thức khai mở một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của ơn cứu độ, đồng thời biểu lộ bản chất Cứu Chúa của mình.   
Chính khi chịu phép rửa tại sông Giođan, Thiên Chúa Cha đã tấn phong Đức Giêsu là Đấng Mêsia, để Đấng Kitô thi hành sứ vụ, và cũng từ đây Ngài đi khắp nơi để ban phát ơn lành (x. Ex 1,1; Kh 19,11; Cv 7,56...)
Thật vậy, Thần khí Đức Giêsu lãnh nhận cũng chính là Thần khí đã ngự xuống trên các ngôn sứ và vua chúa để ban cho họ khả năng thi hành nhiệm vụ; nhưng hơn hẳn các nhân vật quá khứ, Ngài lãnh nhận Thần khí một cách dư đầy (x. Is 11,2).
Cũng chính lúc này, các tầng trời mở ra biểu hiện sự giao hòa. Giao hòa giữa trời và đất, giao hòa giữa Thiên Chúa và con người.
Đây là một biến cố quan trọng, bởi vì Chúa Cha đóng ấn vào công cuộc cứu chuộc của con người qua sự khiêm hạ của Đức Giêsu.
  1. Sứ điệp Lời Chúa
Mừng lễ Đức Giêsu chịu phép rửa, mỗi người chúng ta hãy nhớ lại ngày ta được lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Khi đó, ta được trở nên con Thiên Chúa, được Chúa hứa ban gia nghiệp vĩnh cửu. Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở những đặc ân nội tại của riêng ta, nhưng qua đó, chúng ta cũng còn lãnh nhận một trách nhiệm khác nữa, đó là phải trở nên ngôn sứ của Đức Giêsu. Nói cách khác, chúng ta phải có trách nhiệm loan truyền Đức Giêsu cho người khác.
Nhưng điều đáng nói ở đây là chúng ta loan báo bằng cách nào?
Hình ảnh của Đức Giêsu khiêm nhường để cúi xuống cho Gioan làm phép rửa nhắc cho chúng ta trước, trong và sau khi loan báo hãy lấy thánh ý Thiên Chúa lên trên và phải khiêm nhường. Nếu không có sự khiêm nhường thẳm sâu thì chúng ta sẽ làm đổ vỡ chương trình của Thiên Chúa và thay vào đó là ý định của ta. Thật vậy, không có Chúa, chúng ta chẳng làm được chuyện gì, bởi vì: "Nếu như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công" (Tv 126,1). Mỗi lúc như thế, chúng ta cũng nhớ lại sự xác tín của thánh Phaolô: “Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên” (1 Cor 3:6). Khi xác định như thế, ấy là lúc chúng ta ý thức được vai trò của chúng ta chỉ là đầy tớ cho ông chủ; là thợ trong vườn nho; là dụng cụ trong tay người thợ. Chúa mới là người quyết định thành bại: “Ngoài Ta ra các ngươi không thể làm gì được !” (Ga 15,5c). Thực ra, người ta có gì mà không do lãnh nhận từ Trên ban cho (x Ga 3,27). Chỉ khi nào chúng ta lắng nghe  tiếng Chúa để khám phá ra mặt linh hồn của mình quá ô uế, vì Lời Chúa là gương soi mặt linh hồn (x Gc 1,23). Quả thật, “Chỉ ngang qua Lề Luật, ta mới biết mình có tội” (Rm 7,7). Và, khi đã nhận ra con người khốn nạn của mình, vì đã biết ý Chúa mà không làm, thì không còn dám kiêu căng, lên mặt, coi thường Thiên Chúa, khinh dể người anh em, lúc đó, ta làm sao mà dám lên mặt vênh váo với ai? Bởi lẽ: “Không ai công chính, không một ai [… ] hết thảy đều lầm lạc hư đốn cả lũ! [...] và tất  cả thế gian phải tự nhận mình mắc án của Thiên Chúa” (x. Rm.3,10-20).
Cũng noi gương Chúa hoàn toàn vâng phục và chết vì yêu. Ngài thiết lập Nước của Ngài không phải súng đạn, binh đao và quyền lực. Nhưng hoàn toàn bằng tinh thần yêu thương, liên đới và tự hủy. Qua hình ảnh và hành động đó của Đức Giêsu, mỗi chúng ta cũng ý thức rằng: mọi sự rồi cũng qua đi, chỉ có Chúa và tình yêu của Ngài mới tồn tại: Vì “Không phải nhờ gươm, nhờ giáo mà Chúa ban chiến thắng, vì chiến đấu là việc của Chúa” (1Sm 14,47a). 
Trong mỗi một tập thể hay nơi gia đình, nếu mỗi người đều có tinh thần của của thánh Âutinh: "Cứ yêu đi, rồi làm gì thì làm!” ắt mọi chuyện sẽ được êm đẹp. Cứ xét mình trước rồi hãy xét đoán anh chị em thì sẽ thấy đôi khi tội mình nặng hơn họ. Cứ đặt mình vào cương vị bị người khác hạ nhục, hiểu lầm, bị quát nạt và xấc láo thì mới thấy thương và cảm thông với người khác hơn là trách mắng họ, nhất là đặt mình vào cương vị một người trên mà bị bề dưới sỉ vả hay hỗn xược thì mới thấy được cái cay đắng của những lần mình hỗn láo với những người đáng tuổi ông bà, cha mẹ của mình. Họ cũng đau, họ cũng buốt và nhất là họ thất vọng.
Mong sao trong mọi mối tương quan, ta hãy có tình bác ái và thông cảm cho nhau như Đức Giêsu đã vâng lời và khiêm nhường khi cùng đoàn người đến xin Gioan làm phép rửa thống hối cho mình. Qua đó Ngài muốn liên đới, cảm thông và nâng đỡ những ai đang vất vả, lầm lạc và khổ đau. Và cũng hy vọng hình ảnh một Đức Giêsu hiền hậu, khiêm nhường và hay tha thứ không bị lu mờ đi vì tấm gương quá bẩn, quá xấu của chúng ta.
Hy vọng lời ca ngợi của nhiều anh chị em không đồng đạo với chúng ta vẫn thường nói rằng: đạo Công Giáo là đạo tình yêu; đạo tha thứ; đạo khiêm nhường; đạo của “những người yêu nhau” sẽ không bị phản chứng khi ngay trong chính lối sống và cách hành xử nội bộ nơi con cái Chúa trong Giáo Hội. 
Lạy Chúa Kitô, xưa Ngài đã làm đẹp lòng Chúa Cha bằng cách sống hòa đồng, chia sẻ phận người với chúng con. Xin Chúa giúp chúng con trong tình tương thân huynh đệ, cùng giúp nhau sống tốt về mọi mặt, để xây dựng một Giáo Hội hiệp nhất, yêu thương. Amen.
Jos. Vinc. Ngọc Biển


Thứ Hai, ngày 23 tháng 12 năm 2013

MỘT VÀI SUY TƯ KHI MỪNG LỄ GIÁNG SINH


      
        Trong những ngày này, không khí vui mừng đón chờ lễ Giáng Sinh đang tràn ngập trên thế giới. Nhất là những đất nước có người tin theo Đức Giêsu Kitô. Nơi các nhà thờ của người Công Giáo, Tin Lành, Anh Giáo hay Chính Thống, rộ lên những đèn sao lấp lánh, những hang đá nhỏ to.

     Còn tại các thành phố lớn ở Việt Nam như Sài Gòn hay Hà Nội cũng nhộn nhịp không kém. Bầu không khí đón mừng đại lễ Giáng Sinh còn được biểu hiện nơi các công ty, xí nghiệp, nhà hàng, quán ăn...đâu đâu cũng thấy không khí của của lễ hội. Không khí ấy lại nóng dần lên khi người người đi mua sắm, nhà nhà háo hức đợi mong. Dù là người nghèo hay giàu, nam, phụ hay lão, ấu, người tin theo Đức Giêsu hay không tin, Giáng Sinh vẫn cứ là một ngày hội. Ngày hội tâm linh. Ngày hội của toàn xã hội...
    Đứng trước thực trạng ấy, là người Công Giáo, chúng ta nghĩ gì và có thái độ nào về việc mừng lễ Con Thiên Chúa Giáng trần?
1.      Giáng Sinh dưới cái nhìn xã hội
      Chỉ cần quan sát một chút, chúng ta cũng thấy rất rõ tinh thần mừng lễ của người dân Việt Nam hiện nay:
    Hang đá được mọc lên ngay vệ đường lộ; nơi các góc phố; tại các ngả đường; nơi ngã ba; ngoài ngã bẩy...; trong các gia đình thì nào là hang đá trên lầu; trong phòng khách; ngoài sân; trước cổng... Nói chung hang đá được người dân dựng lên nhiều như nấm. Điều lạ kỳ là: người Công Giáo cũng làm, người Phật Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi Giáo... họ cũng làm hang đá. Nếu ai có dịp đến đường Phạm Thế Hiển, quận 8, thành phố Sài Gòn (thường gọi là Xóm Đạo) thì thấy điều tôi nói quả là không ngoa. Còn hơn thế nữa, hang đá cũng xuất hiện tại các trung tâm mua sắm; các khu vui chơi giải trí; ngay cả những chốn ăn chơi trác táng như: quán Bar; quán “Cafe đèn mờ...” 
      Cũng nhân dịp này, từ người làm lớn cho đến phó thường dân; từ người thu nhập cao lẫn người thu nhập thấp; người trí thức đến ít học... họ thi đua mời nhau đi nhậu. Nay tôi, mai anh. Nay nhóm này, mai nhóm khác... nhậu tơi bời, nhậu hả hê, nhậu quên ăn, quên làm, thậm chí nhậu quên luôn cả lễ lạy cầu kinh... ôi thôi, một sự lạm dụng đến xót xa!

     Như vậy, lễ Giáng Sinh theo cái nhìn hiện sinh của con người và xã hội thuần túy thì: đây là thời điểm “hót” là cơ hội  Very Good để giao lưu, tạo thêm tình thân; đây cũng là cơ hội để làm ăn buôn bán, dịp thuận tiện để mua sắm. Nói chung điểm tích cực trong xã hội về việc mừng lễ Giáng Sinh thì ít mà thực chất là dịp để những nhà kinh doanh dùng như là những “chiêu lạ” nhằm moi tiền của những người thích ăn chơi, ham lạ mà thôi. Đây là một “thực trạng thật” của một số người dân hiện nay khi Mùa Giáng Sinh về.

 

2.      Tinh Thần của Mùa Vọng – Mùa Đợi Trông

      Với người Công Giáo, việc mừng Con Thiên Chúa Giáng Sinh không chỉ dừng lại ở những việc bên ngoài, dẫu vẫn biết rằng cần phải biểu lộ tinh thần ấy ra trước nhãn quan của mọi người. Tuy nhiên, điều mà Giáo Hội mong muốn con cái của mình khi mừng Lễ Giáng Sinh không chỉ bề ngoài, mà còn là chuẩn bị tinh thần bên trong. Đây mới là điều quan trọng cần lưu tâm.
      Thật vậy, thời điểm trước lễ Giáng Sinh, trong suốt Mùa Vọng, Giáo Hội mời gọi chúng ta chuẩn bị để đón chờ Con Thiên Chúa Giáng Sinh làm người. Lời của thánh Gioan Tẩy Giả mời gọi những người cùng thời với ngài, cũng là lời mời gọi mà Giáo Hội muốn mỗi chúng ta cùng nhau hồi tâm suy nghĩ trong suốt Mùa Vọng:  Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Ngài đi. Mọi thung lũng, phải lấp cho đầy, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm phải san cho bằng” (Lc 3, 4-5).
-         Nếu trước kia, ta đi sai đường trật bước, thì nay trở về nẻo chính đường ngay.
-         Nếu trước kia ta sa lầy vào lũng bùn tội lỗi ở chốn ăn chơi, thì nay ta phải lấp đầy bằng những nhân đức và tránh xa những dịp tội, xưng tội và đón nhận Chúa vào trong tâm hồn của mình cách cung kính và mến yêu.
-         Nếu trước kia, ta coi mình như là “cái rốn của vũ trụ”,“ếch ngồi đáy giếng”, thì giờ đây hãy khiêm tốn mà nhìn nhận rằng những gì ta biết chỉ là hạt cát giữa đại dương là hạt  "Notrino" trong vũ trụ mà thôi.
-         Nếu trước kia ta sống không trung thực hay sống với một nửa sự thật, thì nay ta phải sống công chính và đón nhận sự thật toàn vẹn.
      Lược qua tinh thần của Mùa Vọng như thế, để thấy được đích điểm mà Giáo Hội muốn nhắm tới trong Mùa Vọng là gì và, nội dung chính yếu của việc  mừng lễ Chúa Giáng Sinh hệ tại đâu! 
3.                           Giáng Sinh trong tâm thức và cái nhìn hướng thiện của người Công Giáo
     Trước tiên, đón mừng lễ Giáng Sinh, không chỉ chuẩn bị những thứ bên ngoài, điều đó cần nhưng chưa đủ và không phải là việc quan trọng nhất. Việc quan trọng nhất là mỗi khi mừng lễ, chúng ta hãy mặc lấy tâm tình của người Do thái khi nghe Gioan Tẩy Giả kêu mời là: hãy sám hối và tin vào Tin Mừng, hãy dọn sạch con đường tâm hồn để Chúa ngự đến; đồng thời mỗi khi mừng lễ Giáng Sinh, chúng ta cũng hãy hướng đến ngày Cánh Chung của thế giới và của mỗi người như một cuộc chất vấn lương tâm về những hành vi tốt - xấu của mình, hầu chuẩn bị cho xứng đáng đón Chúa ngự đến trong tâm hồn.
    Năm 2012, khi chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, đã mời gọi mọi tín hữu kitô, mỗi khi mừng sinh nhật Con Thiên Chúa là mỗi lần: "...thách thức chúng ta hãy kiểm điểm lại những ưu tiên, giá trị và chính lối sống của chúng ta. Trong khi Lễ Giáng Sinh chắc chắn là một thời điểm đầy vui mừng, nhưng đây cũng là cơ hội để suy tư sâu xa, và xét mình”[1].
   Thứ đến, mỗi dịp Giáng Sinh về, Giáo Hội lại một lần nữa mời gọi con cái mình hãy chiêm ngắm sự khiêm nhường của gia đình Thánh Gia, một gia đình hết sức khiêm tốn, đơn sơ, chất phác: Mẹ Maria thì suy đi nghĩ lại trong lòng, không khoe khoang, không lên mặt với ai, dẫu biết rằng trong nhà mình có Hài Nhi Giêsu là Chúa các chúa, Vua các vua. Ngài là Chúa Tể trời đất; với thánh Giuse, người là đấng Công Chính, luôn âm thầm và sẵn lòng vâng theo thánh ý Thiên Chúa trong mọi biến cố của cuộc đời; còn Chúa Giêsu, Ngài đã tự hạ, trở nên Ngôi Lời, tức Thiên Chúa - người, để ở với và sống cùng chúng ta. Nói về tinh thần khiêm nhường này trong thời đại của chúng ta, Đức Thánh Cha đương kim Phanxicô nói: “Chúng ta phải khiêm nhường, nhưng với sự khiêm nhường thật sự, từ đầu đến ngón chân”[2].
      Cuối cùng, mỗi khi mừng lễ Giáng Sinh, chúng ta hãy nghĩ đến cảnh nghèo khó của Con Thiên Chúa. Một vị Thiên Chúa mà lại sinh ra trong cảnh màn trời chiếu đất, nơi hang bò lừa, chốn hoang vu lạnh giá. Ngài sinh ra như thế, để biểu lộ tình yêu tột cùng và sự liên đới với cái nghèo của nhân loại cách sâu xa. Khi diễn tả về sự tự hủy này, thánh Phaolô đã nói: Đức Giêsu “...vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế…” (Pl 2,6-7). 
      Thật vậy, một vị Vua cả trời đất, nhưng lại xuất hiện một cách âm thầm lặng lẽ; một vị Thiên Chúa giàu sang phú quý, quyền năng mà lại chấp nhận bị người đời xua đuổi chỉ vì không có tiền thuê cho mình một phòng trọ bình dân; một biến cố vĩ đại đã được tiên báo từ ngàn xưa, nay lại được diễn ra ở tận cùng của sự thiếu thốn là máng cỏ bò lừa, nơi dùng để làm chỗ chứa thức ăn cho loài vật...

     Khi chiêm ngưỡng mầu nhiệm Nhập Thể - Giáng Sinh - làm người của Con Thiên Chúa dưới con mắt đức tin, và nếu chúng ta để cho lương tâm lên tiếng, thì đâu còn cảnh ăn uống nhậu nhẹt, chơi bời đàn đúm; đâu còn ai dám lợi dụng lễ Giáng Sinh như là mục đích tốt và rồi tìm mọi cách biện minh bằng những phương tiện xấu để làm ăn bất chính? Đâu còn bình chân như vại khi thấy được nỗi khổ của người anh chị em chúng ta trong cảnh mồ côi, túng thiếu, khổ đau... Đâu còn dám vô cảm khi bên cạnh chúng ta có những người chỉ cần một gói mì để sống qua ngày; cũng đâu còn vui sướng khi anh chị em của chúng ta phải đói khát, rét mướt chống chọi với thiên tai, nhất là siêu bão Haiyan gây nên ở các tỉnh miền Trung và miền Bắc hồi đầu tháng 11 năm 2013 vừa qua?   

Tạm kết:

      Tắt một lời: mỗi khi đón mừng lễ Giáng Sinh, từng người chúng ta hãy tiếp tục sống tinh thần Mùa Vọng là hoán cải, sửa sang tâm hồn bên trong hơn là bề ngoài. Đến  với Chúa bằng tấm lòng đơn sơ khiêm nhường. Chiêm ngắm gia đình Thánh Gia bằng con mắt đức tin. Và, sống mầu nhiệm Giáng Sinh bằng tinh thần tự hủy, liên đới trong yêu thương.
     Qua những gì vừa chia sẻ, hẳn mỗi chúng ta hãy làm mới lại tất cả những cung cách, tinh thần mỗi khi cử hành phụng vụ, để trong những cử hành thánh đó, chúng ta đụng chạm được thực sự đến Thiên Chúa, không những như một hài nhi trong máng cỏ,  mà còn như một Đấng qua đó chúng ta nhận ra Thiên Chúa làm Người[3]. Ưu tư này cũng được Đức hồng y Oswald Gracias, Chủ tịch FABC gợi ý: “Giáo hội tại Việt Nam cần tập trung vào việc huấn luyện đức tin, mọi người cần hiểu biết về Tin Mừng nhiều hơn, tham dự Phụng vụ cách sống động hơn. Cần phải tập trung để đưa Thiên Chúa trở về với cuộc sống, để đương đầu với những thách đố đến từ bên ngoài”[4].
   Thiết nghĩ, khi suy tư về việc mừng lễ Giáng Sinh, người viết không có ý phê phán việc trang trí lộng lẫy bên ngoài cho bằng đưa ra một câu hỏi: liệu có nên chăng khi chỉ lo bề ngoài, nhất là ăn chơi rong ruổi mà bên trong tâm hồn thì khô cằn trống rỗng! Phải chăng cần một sự dung hòa giữa chiều sâu đức tin và hình thức bên ngoài? Có lẽ một mặt cần phải diễn tả rõ nét vinh quang của Thiên Chúa, Ngài là Ánh Sáng thật đã đến trần gian, Ngài là Hoàng Tử Hòa Bình, là Chúa Tể trời đất qua việc giăng đèn kết hoa, nhưng mặt khác cũng cần phải làm toát lên một vị Thiên Chúa vì yêu con người, nhất là những người cô thế, cô thân, những người không có tiếng nói, những người khổ đau bệnh tật, nên đã chấp nhận hủy mình ra không để sinh ra trong cảnh nghèo, và chết đau thương trên thập giá chỉ vì “yêu và yêu đến tận cùng”. Vì thế, mỗi khi mừng lễ Giáng Sinh, hẳn mỗi người chúng ta cần xem lại đời sống nội tâm, đức tin của chúng ta tới đâu? Và mỗi khi lễ Giáng Sinh qua đi, thì còn đọng lại nơi tâm hồn chúng ta cái gì?
    Bài giảng của Đức Thánh Cha trong thánh lễ  thứ Hai tuần I  Mùa Vọng tại nhà nguyện trong Nhà khách Santa Marta đáng để cho mỗi chúng ta suy niệm trong dịp này, ngài nói: “Chuẩn bị mừng lễ Chúa Giáng sinh là đi vào cuộc hành trình của đức tin và cầu nguyện để gặp gỡ Chúa”; Bởi vì Giáng sinh không chỉ  ngày lễ hội hằng năm hay kỷ niệm một biến cố đẹp. Giáng sinh là điều gì đó hơn thế. Giáng sinh là một cuộc lên đường đi gặp Chúa. Giáng sinh là một cuộc gặp gỡ. Chúng ta đến gặp Chúa với con tim rộng mở, với cuộc sống của chúng ta.Gặp gỡ Đấng hằng sống, gặp gỡ Người với đức tin của chúng ta”[5].
    Mong thay, mỗi dịp Giáng Sinh về, lời thiên sứ loan tin cho các mục đồng khi xưa lại vang vọng và đọng lại trong tâm khảm mỗi chúng ta, lời đó là lời “vui mừng - bình an – yêu thương”.

                                                                                                  Jos. Vinc. Ngọc Biển
[1] Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, kêu gọi suy tư và xét mình nhân lễ Giáng Sinh, truy cập ngày 23-12-2012, trên: http://tonggiaophanhanoi.org/tin-tuc/tin-tong-hop/4713-duc-thanh-cha-keu....
[2] Xc. Bài huấn đức của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, truy cập ngày 11-11-2013 trên: http://giaophannhatrang.org/index.php?nv=news&op=Giao-Hoi-Hoan-Vu/Duc-Giao-Hoang-Phanxico-noi-Khiem-nhuong-tu-dau-cho-den-ngon-chan-3080
[3] Ibid.
[4] Xc. Đức hồng y Oswald Gracias, Giáo hội tại Việt Nam cần tập trung vào việc huấn luyện đức tin, truy cập ngày 23-12-2012, trên: http://www.hdgmvietnam.org/%E2%80%9Cgiao-hoi-tai-viet-nam-can-tap-trung-....
[5] Xc. Đức Thánh Cha Phanxicô, Chuẩn bị Giáng sinh: Hãy để Chúa đến gặp chúng ta, truy cập ngày 09 – 12-2013, trên: http://www.hdgmvietnam.org/chuan-bi-giang-sinh-hay-de-chua-den-gap-chung-ta/5618.57.7.aspx